Làn sóng văn hóa mới định nghĩa lại Hàn Quốc

Korean Wave projects-poster in Spanish

Làn sóng văn hóa đại chúng Hàn Quốc là một hiện tượng thu hút sự chú ý của rất nhiều người, từ những cô cậu trong showbiz’s fandom cho tới các chính trị gia và học giả. Tuy nhiên mặc dù hằng ngày chúng ta bị bỏ bom với 9999999 tin tức từ showbiz, có rất ít bài phân tích, nhận định về ý nghĩa của hiện tượng văn hóa Hàn này. Sau đây là bản dịch từ một bài phân tích của Andrew Salmon đăng trên Korean Times. Salmon là một cây bút chuyên về bán đảo Triều Tiên của nhiều tờ báo tên tuổi như Washington Times và Forbes. Trong bài viết với tựa đề “New Wave of Pop Culture Re-defines Korea” này, Salmon giới thiệu khái quát về bối cảnh hình thành, và ý nghĩa chính trị xã hội của làn sóng văn hóa Hàn trên trường quốc tế. Ông lập luận rằng như  đã thành công ở những nước Châu Á, những văn hóa phẩm Hàn có thể sẽ là chìa khóa dàn xếp căng thẳng chính trị trên bán đảo Triều Tiên.

———————————————————————————————-

Năm 1990, học giả Mỹ  Joseph Nye đề ra thuật ngữ “quyền lực mềm.”  Thuật ngữ này chỉ những quốc gia thiết lập quan hệ hữu nghị và ảnh hưởng các nước khác thông qua giá trị đạo đức, văn hóa, chính sách và tổ chức, trái với “quyền lực cứng,” dựa trên sự cưỡng chế và vật chất. Cốt lõi của khái niệm “quyền lực mềm” này là giả thuyết rằng người khác “muốn những gì bạn muốn.”

Lý thuyết “quyền lực mềm” hợp lý hóa phần lớn những gì Hoa Kỳ đã và đang làm – hoặc, ít nhất, cố gắng để làm: quảng bá những giá trị như dân chủ tự do, tự do chính trị và tự do kinh tế. Trong khi những giá trị này có thể được truyền tải bởi các chính sách và tổ chức khác nhau, ta có thể biện luận rằng ngành công nghiệp giải trí Mỹ đã đóng góp nhiều nhất cho công cuộc phổ biến ước mơ “Mỹ” trên toàn cầu.

Một Hàn Quốc đang thay đổi


“Quyền lực mềm” thách thức mô hình phát triển truyền thống của Hàn Quốc. Từ những năm 1960s, chính phủ độc tài đã đặt tăng trưởng kinh tế như ưu tiên tuyệt đối. Nhiệm vụ phát triển chính trị xã hội được gác lại trong khi cả nước hợp sức đưa đầu máy kinh tế Hàn Quốc đến ga cuối của “các quốc gia tiên tiến.” Kết quả là thành công: Về kinh tế, Hàn Quốc có thể được xem là câu chuyện thành công nhất của thế kỷ 20.

Theo gót sự thịnh vượng là nhu cầu tự do chính trị. Sau một thập kỷ đấu tranh, các cuộc biểu tình dân quyền đã lật đổ được chính quyền quân sự năm 1987. Mặc dù khởi đầu chậm chạp và không chắc chắn, thể chế dân chủ đã được thiết lập. Bước vào những năm đầu 1990, dân chủ chính trị bắt đầu dẫn tới chủ nghĩa tự do xã hội.

Những giá trị nào tóm lược được xã hội Hàn Quốc-một quốc gia với nhiều di sản văn hóa và truyền thống cổ xưa, nhưng mới đạt được thịnh vượng, tự do và dân chủ?

Thập niên 1980 và 1990,Lee Kuan-yew của Singapore và Mahathir Mohamed của Malaysia hô hào “giá trị châu Á” như một thay thế cho những gì họ cho là chủ nghĩa tự do quá mức và vô trách nhiệm của phương Tây. Các nhà phê bình cho “giá trị châu Á” là một lớp khăn che đậy chế độ cửa quyền và chống chủ nghĩa Tây phương, nhưng ít nhà tư tưởng có đủ uy tín để thách thức nó.

Mãi tới năm 1994, nhà dân chủ đã từng được Nobel Hòa bình Kim Dae-jung đã làm được điều này trong một bài luận xuất sắc trên tạp chí Foreign Affairs, “Văn hóa là Định Mệnh? Chuyện Hoang Đường về Giá Trị Châu Á”. Kim cho rằng vận mệnh của đất nước mình là cải thiện, thay vì loại trừ, các khái niệm phương Tây bằng cách tham khảo các giá trị truyền thống cổ xưa của châu Á về dân chủ, pháp quyền và tôn trọng cá nhân.

Làn Sóng Mới Ấp Ủ

Đầu những năm 1990, Hàn Quốc được tự do hóa. Trước đây bị hạn chế đi nước ngoài, người dân có thể tự túc du học. Một số sang Hoa Kỳ học hỏi về điện ảnh và ngành công nghiệp giải trí văn hóa Hoa Kỳ. Đến giữa những năm 1990, những tiên phong như Lee Seung-man, người sáng lập SM Entertainment và biến nó trở thành siêu trung tâm nhạc pop Hàn Quốc (cho ra đời: Girls Generation, Suju, Dong bang shinki, f(x), SHINee…), trở về nước với những ý tưởng mới. Năm 1996, luật kiểm duyệt được tuyên bố là vi hiến. Những điều cấm kỵ – như ca sĩ ăn mặc hở hang nhảy múa sexy trong khi hát nhép trong những chương trình truyền hình trực tiếp, đến các nhà làm phác họa chân dung Bắc Triều Tiên một cách đồng cảm – đã ngày càng được chấp nhận ở Main Street, Seoul.

Năm 1997-8, khủng hoảng kinh tế làm rung chuyển ngành công nghiệp giải trí cũ. Cơ hội đến cho những người mới vào nghề; các công ty tài chính như CJ và Orion bắt đầu đầu tư. Cuộc khủng hoảng đã phơi bày những khuyết điểm ẩn trong hệ thống kinh tế cũ, và các sinh viên mới tốt nghiệp nhưng có tài bắt đầu cân nhắc những cơ hội mới trong nền công nghiệp nội dung thay vì chọn những nghề nghiệp chaebol truyền thống an toàn.

Các tập đoàn như Samsung và Hyundai đã miễn cưỡng bỏ đi cách đầu tư nhiều dòng để tập trung vào các sản phẩm cốt lõi: Lần đầu tiên, chaebol bị buộc phải tập trung. Chuyên môn hóa trở thành tiêu chuẩn. Việc xây dựng thương hiệu trở nên phổ biến. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng công nghệ cao được trang bị giữa những năm 1990 đã cho phép người Hàn Quốc tận dụng Internet và các phương tiện viễn thông di động hiệu quả hơn bất cứ ai khác.

Làn Sóng Bắt Đầu

Sự kết hợp của các yếu tố này dẫn đến làn sóng văn hóa đại chúng đầy sáng tạo vào cuối những năm 1990. Nội dung mới của làn sóng này là kết hợp của quy trình sản xuất chất lượng cao, tiếp thị chuyên nghiệp, và nhân tố địa phương chủ chốt: những cảm xúc nhiệt tình nguyên thủy của người Triều Tiên. Khi âm nhạc Hàn, phim truyền hình, phim điện ảnh và trò chơi tràn ngập lục địa, từ Đông Á đến Trung Đông, các phóng viên Trung Quốc đã đưa ra thuật ngữ “Hallyu” (Làn sóng Hàn Quốc”) để miêu tả những gì đang xảy ra: một làn sóng văn hóa phẩm cao đột ngột từ một quốc gia trước nay chỉ được biết đến bởi các sản phẩm công nghiệp.

“Bản Tình Ca Mùa Đông” (2002),  một phim truyền hình “syrupy-ướt át” tiêu biểu, làm cho bao bà nội trợ phát cuồng vì diễn viên chính Bae Yong Joon, người được biết đến với cái tên danh dự “Yonsama” ở đảo quốc Phù Tang. Bae trở thành biểu tượng tình dục quốc tế đầu tiên của Hàn Quốc, với sự nghiệp đạt tới đỉnh cao đến mức anh được mời xuất hiện trên TV cùng với các bộ trưởng của Nhật. “Dae Jang Guem” (2003), kể về những khó khăn thử thách của một đầu bếp nữ trong cung điện Joseon, trở thành chương trình truyền hình được xem nhiều nhất trong lịch sử Hong Kong. Bộ phim kinh dị/bạo lực “Old Boy” (2003) mang lại uy tín cho điện ảnh nội địa khi nó giành giải thưởng Grand Pix cao quý nhất tại Liên Hoan Phim Cannes.

Gía trị của thương hiệu “Hàn Quốc” gia tăng với tốc độ chóng mặt mà không bảng xếp hạng nào trước đây bì kịp. “Winter Sonata” quảng bá hình ảnh Hàn Quốc tại Nhật Bản nhiều hơn bất cứ hoạt động quảng cáo nào của Tổng cục Du lịch Hàn Quốc. Du khách Nhật đổ xô tới Hàn để thăm địa điểm quay phim và đi tour “mua sắm” Yonsama. Hơn nữa, “Dae Jang Geum” đặt ẩm thực Hàn Quốc lên bản đồ khu vực. Tại Hong Kong,  nhà hàng Hàn Quốc phục vụ hanjongsik (bàn ăn cho gia đình quý tộc và hoàng gia) trở nên nổi tiếng qua đêm, với khách hàng xếp hàng dài bên ngoài cửa. (Tại Điện Gyeongbok, địa điểm du lịch hàng đầu của Seoul, đã để thêm một bếp phong cách “Daejanggeum”) . Old Boy” (2004) (may mắn thay) không nhất thiết thu hút khách du lịch đến những khu xập xệ tối đèn ở Seoul, nhưng nó đã giành hoan nghênh từ Quentin Tarantino và đã chứng minh rằng Hàn Quốc có thể làm được những phim hành động bạo lực, tràn trề sức sống như Hollywood hay Hong Kong.

Trong khi làn sóng Hallyu không tự ý thức truyền tải “những giá trị Hàn,” nó đã đại diện cho “giá trị Hàn:” phim truyền hình và điện ảnh Hàn Quốc rẻ hơn so với phim Mỹ và Nhật Bản.

Và tất nhiên ta có những “giá trị châu Á” đi kèm: Nhiều chủ đề của các sản phẩm văn hóa được chuộng bởi những người châu Á có cùng cấu trúc gia đình và xã hội tương tự.  Ví dụ, nhiều phim hit của Hàn Quốc xây dựng mâu thuẫn câu chuyện xung quanh cơ cấu gia đình xã hội Á Đông này. Hơn nữa, khán giả không có ác cảm với lịch sử Hàn Quốc – một yếu tố mà đạo diễn Hàn Quốc tin rằng đang ức chế văn hóa pop Nhật Bản.

Với phim và video nhạc miêu tả lối sống hào nhoáng, các nhà sản xuất sử dụng các sản phẩm văn hóa này để tiếp cận khán giả mà thông thường quảng cáo thương mại không thể, và dùng các ngôi sao Hàn như người đại diện cho sản phẩm. Đối với người xem ở Trung Quốc và Đông Nam Á, lối sống Triều Tiên trở thành một nguồn cảm hứng.

Trong khi xà phim truyền hình bị hạn chế trong tính phê bình xã hội, và đã được xem, thường xuyên, thông qua ống kính màu hồng,  phim điện ảnh mạnh dạn hơn trong mảng này. “JSA – Joint Security Area” (2000) là một cách nhìn đột phá về vấn đề chia cắt đất nước; “Silmido” (2004) xoay quanh vụ thảm sát đẫm máu trong thời đại Park Chung-hee, và “The King và các Clown” ( 2005) đưa ra vấn đề đồng tính luyến ái trong xã hội xưa. Rất khó để nhìn thấy những sản phẩm văn hóa như thế này được sản xuất ở các nước bị áp chế hơn trong khu vực.  Đối với khán giả châu Á, rõ ràng rằng xã hội Hàn Quốc thế kỷ 21 đã cởi mở hơn và tự do.

Làn sóng cũ?

Làn sóng đạt đỉnh điểm vào năm 2005, khi Hàn Quốc được bán $ 22.000.000 giá trị văn hóa phẩm ra nước ngoài. Ngày nay, “làn sóng Hàn Quốc” là một chiếc mũ cũ. Phim Hàn không còn mới mà đã trở thành một phần của ngành giải trí châu Á và toàn cầu.  Ngày nay, với cơ sở hạ tầng được cải thiện với nhiều rạp phân phối và truyền hình cap, các nhà sản xuất Hàn không cần bán sản phẩm ra nước ngoài; thị trường trong nước đã trưởng thành.

Mặc dù các quan chức tại Seoul đã không thành công trong việc thúc đẩy mô hình kinh tế quốc gia tới thế giới phát triển, ngành công nghiệp văn hóa đã có những thành quả đáng kể. Làn sóng làm hình ảnh Hàn Quốc trở nên hấp dẫn; thương hiệu quốc gia đã được nâng lên, từ một “nhà máy” sản xuất đầy công nhân viên chức và binh lính, thành một xã hội thịnh vượng và cởi mở: một “Kool Korea”.

Tuy nhiên, trên mặt trận chính trị chiến lược, cái “quyền lực mềm” ẩn trong làn sóng Hàn Quốc vẫn còn hạn chế khi đối mặt những thách thức chính trị trên bán đảo: Thống Nhất. Thông qua phim truyền hình và điện ảnh nhập lậu vào Bắc Triều Tiên, sự tuyên truyền nhiều thập kỷ của nhà nước Bình Nhưỡng đang được làm suy yếu: Nếu xã hội Hàn Quốc là cảm hứng cho người Đông Nam Á, làm sao nó không lôi cuốn được những người dân Bắc Triều Tiên nghèo khổ và bị áp bức? Khía cạnh này của quyền lực mềm dẻo có thể chứng minh là một yếu tố quan trọng trong việc phá đổ bức tường mà Kim Jong-il đã xây nên như bất kỳ khía cạnh nào của quyền lực cứng.

Trên đỉnh làn sóng: 10 phim phải xem của Hàn Quốc

Trong khi phim truyền hình Hàn Quốc – với nhiều chất melodrama ủy mị và cốt chuyện công thức – và K-pop – với sự chú trọng vào nhạc pop “mềm”, biên đạo múa và hình ảnh hơn là về âm nhạc – chắc sẽ không giành được tình cảm của khán giả phương Tây trong tương lai gần, làn sóng mới của phim điện ảnh Hàn Quốc có chỗ đứng vững trong thị trường quốc tế (?). Dưới đây là giới thiệu của tác giả cho 10 phim hay nhất từ Hollywood của phương Đông này:

“Shiri” (1999)

“JSA – Joint Security Area” (2000)

Chingu (“Friends”) (2001)

“My Sassy Girl” (2001)

“A Tale of Two Sisters” (2002)

“Silmido” (2002)

“Memories of Murder” (2003)

“Spring, Summer, Fall, Winter…and Spring” (2004)

“Old Boy” (2003)

“The King and the Clown” (2005)

(Tác giả đưa ra giới thiệu phim rất hay nhưng mình lười không dịch. Bạn có thể vào xem ở nguồn)

——————————————————————————————–

Một số ý kiến của Tiny

Đây là bài viết dưới góc nhìn của một người phương Tây nên ta có thể thấy một chút thiên vị về các vấn đề như dân chủ tự do vs. “giá trị châu Á.” Gía trị Châu Á mà tác giả nói tới ở đây không được định nghĩa rõ ràng (Asian values= authoritarianism and conservativeness?). Ngay cả ý kiến của tác giả về phim truyền hình Hàn Quốc (ủy mị, công thức, khó có chỗ đứng trên trường quốc tế) cũng bị hạn chế vì “trường quốc tế” nói tới ở đây đúng hơn có lẽ là thị trường phương Tây (America+Europe?) (Phương Tây ≠ Quốc Tế. Trừ khi một con chó đã ăn mất ba góc còn lại của thế giới). Một điều nữa làm mình khá khó chịu là bài viết này không có chú thích gì cả, mặc dù có cite một số fact; nhiều khi người viết phang vào những câu vô thưởng vô phạt như “Bae Joong Yoon là biểu tượng tình dục đầu tiên của Hàn”? Ai nói? Dựa vào tiêu chuẩn gì?

Những điều được nêu ra trong bài viết này không phải là mới với fan của Kdrama. Ai mà không biết Winter Sonata, Daechang Geum, Shiri là những phim bắt đầu làn sóng Hàn. Ai mà không biết hình ảnh Hàn Quốc được quảng bá rộng rãi qua những bộ phim này. Tuy nhiên, mình thích là trong vòng 3000 từ tác giả đã đặt hiện tượng văn hóa này vào bối cảnh chính trị và xã hội của đất nước Hàn, và do đó bài viết trở nên critical và khơi gợi nhiều suy nghĩ, liên hệ hơn.

Nguồn: Korean times

Dịch: tinysunbl