Lịch sử hình thành và phát triển của làn sóng Hàn (Hallyu)

The Growth of Korean Cultural Industries and the Korean Wave / Doobo Shim

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa và làn sóng Hàn Quốc

Đây là tóm tắt và lược dịch từ chương đầu tiên của quyển East Asian Pop Culture: Analyzing the Korean Wave, tạm dịch là Văn hóa pop Á Đông: phân tích làn sóng Hàn. Xuất bản năm 2008, quyển sách gồm 12 bài luận của một nhóm học giả từ Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật về văn hóa pop châu Á, cụ thể là hiện tượng làn sóng Hàn Quốc (hallyu). Chua Beng Huat và Koichi Iwabuchi (Chỗ nào có bàn về văn hóa pop châu Á, chỗ đó có bác này!) giới thiệu và biên tập. Sách được chia làm ba phần, phần I nói về ngành công nghiệp truyền hình và vai trò của đài truyền hình trong việc truyền bá hallyu. Phần II là những nghiên cứu xoay quanh hallyu dưới góc nhìn của người xem đài và fans. Phần III phân tích và đánh giá vai trò của hallyu dưới góc nhìn lịch sử và quan hệ quốc tế giữa các nước Đông Á. Xem mục lục ở đây.

Bài luận đầu tiên của Thầy Doobo Shim tại ĐH Quốc Gia Singapore có nhiều thông tin lịch sử tổng quan, bổ ích nên Tiny rất muốn đăng lên chia sẻ. Bài này đã được dịch từ tháng 9 năm 2011! Vì đây là dịch chui (và chuối) nên xin các bạn đừng phát tán bài dịch này trước khi có sự cho phép của Tiny. 

Giới Thiệu

Từ những năm 80, Hàn Quốc đã chịu sức ép căng thẳng song phương (chủ yếu từ Mỹ) và đa phương  buộc mở cửa thị trường để hòa theo xu hướng toàn cầu hóa trong nhiều ngành, kể cả phim điện ảnh và truyền hình. Trong thế tự vệ,  nền kinh tế Hàn thúc đẩy việc sản xuất và thương mại hóa các thể loại truyền thông- bao gồm phim, chương trình truyền hình, hoạt hình, v.v. Được ủng hộ bởi những người bất mãn với tình trạng nhà nước độc quyền làm truyền thông trước đây, các chính sách nới lỏng truyền thông dẫn đến một môi trường nội địa cạnh tranh cao, cuối cùng có thể cho ra đời những sản phẩm thành công thương mại.

Tới 2006 các sản phẩm văn hóa (popular culture) Hàn đã được tiêu thụ bởi khán giả khắp nơi từ Châu Á. Bắt đầu với những phim cuối thập niên 90 như Giấc Mơ Vươn Tới Một Ngôi SaoWhat Is Love All About (Tiny không rõ tựa này là của phim gì, có thể là phim Thành Thật Với Tình Yêu với Bae Yong Jun, cũng có thể là Chuyện Tình- Lee Byung Heon), và gần đây là Winter Sonata & Dae Jang Geum, phim truyền hình Hàn và những ngôi sao như Bae Yong Jun, Ahn Jae Wook, Lee Byung Hun Kim Hee Sun đã mê hoặc khán giả Châu Á. Sự phổ biến của phim truyền hình đi đôi với phim điện ảnh. Bắt đầu với Shiri, Joint Security Area My Sassy Girl, phim điện ảnh Hàn trở nên không thể thiếu trong các rạp chiếu phim khắp châu Á. Nhạc pop Hàn cùng lúc đó sản xuất ra các ngôi sao quốc tế như H.O.T., BoARain (Bi). Các phương tiện truyền thông trong khu vực (Tiny: cụ thể là một tờ báo Tàu năm…) đã gọi hiện tượng văn hóa ở Châu Á này là Làn sóng Hàn hay Hallyu.

Sự phổ biến thường nhật của popular culture Hàn được chứng minh qua một bài hát ở Malaysia, tựa là Anh không phải là…Song Seung Heon (ROFL!!!). Hai anh ca sĩ diễn tả tâm trạng của một người đàn ông có bạn gái bị Song Seung Hun mê hoặc. Lời bài hát “Em muốn anh nói saranghae/Em phàn nàn tình yêu của chúng ta không giống phim Hàn Quốc…/Em bắt anh mỗi ngày chỉ ăn một bát mì Hàn…,” cho thấy văn hóa Hàn đã ăn sâu vào đời sống của người dân châu Á như thế nào. (Nguyên lời nhạc).

Điện Ảnh Hàn Những Năm 90

Giai đoạn cuối thập niên 80 và đầu 90 là một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử điện ảnh Hàn, bởi thị trường bắt đầu mở cửa cho các nhà phân phối phim nước ngoài. Với sức ép của Mỹ, năm 1988 chính phủ Hàn cho phép các công ty nước ngoài trực tiếp phát hành phim ngoại mà không cần sang tay cho cơ quan nội địa, một điều mà giới làm phim nội phản đối dữ dội trong vô vọng. Sau chính sách này, phim nội bị thất thu và chỉ thu hút một con số thấp kỉ lục 15.9% thị trường trong nước năm 1993. Năm 1984, số lượng phim nội so với phim ngoại nhập vào là 81 vs. 25. Con số thay đổi 87 vs. 175 năm 1988, và 63 vs. 347 năm 1993 (Korean Film Council, 2006). Tình hình này đã khiến nhiều người dự đoán sự sụp đổ của điện ảnh Hàn trong tương lai gần.

Cùng thời gian đó, chương trình Vòng đàm phán Uruguay (UR), bắt đầu năm 1986, đã kết thúc năm 1994 với kết quả biến Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 1995. Các thành viên của GATT, trong đó có Hàn Quốc, buộc phải mở cửa lĩnh vực văn hóa truyền thông. Đây là lĩnh vực trước giờ được bảo vệ khỏi cạnh tranh từ bên ngoài, đã là “điều ngoại lệ” trong điều kiện tự do thương mại của GATT kể từ năm đầu 1947. Báo chí Hàn bắt đầu dự đoán trong khi văn hóa sẽ là một lĩnh vực mới trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu, Hàn Quốc có nguy cơ thất thu lợi nhuận và đánh mất bản sắc văn hóa riêng bởi sự du nhập của truyền thông ngoại.

Năm 1994, Ban cố vấn Khoa Học Kĩ Thuật đề xuất với tổng thống Kim Young Sam nên lấy việc phát triển nền công nghiệp điện ảnh và truyền thông làm chiến lược quốc gia. Đây là một sự đổi mới đáng kể trong cách nhìn vì trước nay Hàn Quốc luôn tin rằng các ngành công nghiệp nặng như sản xuất ô tô, hóa chất, xây dựng và điện tử mới là chìa khóa dẫn đất nước tiến tới một tương lai giàu mạnh.

Trong bối cảnh này, Quốc Hội ban hành luật Motion Picture Promotion Law (Luật Khuyến Khích Phim Điện Ảnh) năm 1995 để thay cho bộ luật Motion Picture Law đã từ lâu hạn chế công nghiệp điện ảnh. Với luật mới, nhà nước ban hành thuế ưu đãi cho công ty sản xuất phim nhằm thu hút vốn đầu tư tư nhân. Trong thực tế, các tập đoàn chaebol lớn như Samsung, Daewoo và Hyundai đã từ lâu có định hướng sản xuất văn hóa phẩm, lấy bài học từ Sony Electronics của Nhật thu mua hãng phim Columbia Pictures và CBS Records cuối thập niên 80. Dựa vào khái niệm sức mạnh tổng hợp của phần mềm-phần cứng, các công ty này muốn đưa sản phẩm điện tử vào trong các lĩnh vực giải trí. Samsung và Daewoo bắt đầu đầu tư làm phim hay sản xuất video cuối những năm 80. Bắt đầu năm 1995, Samsung, Daewoo và Hyundai cũng kí hợp đồng với các kênh truyền hình cáp trên danh nghĩa nhà cung cấp chương trình.

Sau vài năm hoạt động, những liên doanh này bị thua lỗ. Thêm vào đó, kinh tế Hàn Quốc bắt đầu có dấu hiệu trì trệ giữa những năm 90. Nhiều tập đoàn tìm cách rút chân ra khỏi lĩnh vực văn hóa giải trí. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 là cái cớ chính đáng để đóng cửa kinh doanh. Tới tháng Giêng 1998 tập đoàn SK đã làm giảm đáng kể kinh doanh phim và video, theo gót là Daewoo. Đặc biệt cuộc giải thể của công ty Samsung Entertainment Group, được thành lập năm 1995 để quản lí tất cả những công ty sản xuất sản phẩm văn hóa nhỏ của Samsung, đánh dấu sự kết thúc của “thời kì cheabol của ngành công nghiệp điện ảnh Hàn” những năm 90.

 Thời kì cheabol không hẳn chỉ là một mối duyên ngắn ngủi mà thật ra đã giúp xây dựng nền tảng cho thời phục hưng của điện ảnh. Với việc tổ chức các liên hoan phim độc lập, các cuộc thi viết kịch bản với giải thưởng lớn, các công ty phim quản lý bởi chaebol tuyển dụng được nhiều tài năng trẻ. Cụ thể là các tập đoàn này đã gửi đạo diễn trẻ đi những trường nổi tiếng khắp nơi trên thế giới. Những người này cũng sẽ phải chờ nhiều năm mới làm được phim đầu tay nếu không có tài trợ. Trong giai đoạn này, nhiều nhà quản lí giỏi của các tập đoàn được tuyển dụng để làm việc trong ngành điện ảnh. Họ truyền kinh nghiệm kinh doanh, bao gồm cách thức quy hoạch hệ thống, tiếp thị và giải ngân minh bạch, vào nền công nghiệp điện ảnh đã lạc hậu và thua lỗ. Sau khi các công ty cheabol giải thể, nhiều người không quay về mà tiếp tục làm việc trong ngành điện ảnh. Khi Samsung Entertainment Group đóng cửa, 30 trong 45 nhân viên không quay về vị trí cũ trong Samsung mà đi làm cho các công ty phim khác.

Sự Vươn lên Của Điện ảnh Hàn

Mô hình kinh tế điện ảnh của các tập đoàn chaebol đã tạo điều kiện cho nhiều “người chơi” mới bước vào lĩnh vực này. Khi được hỏi, “Ông nghĩ đóng góp lớn nhất của Samsung Entertainment Group vào nền công nghiệp điện ảnh Hàn là gì?”, Choi Wan, CEO của IM Pictures và người đã từng phụ trách quản lí Samsung Entertainment Group ngày trước- cho biết một cách rõ gọn: “Samsung tạo ra một mô hình kinh doanh minh bạch, mở đường cho một hình thức đầu tư mới.” Khi chaebol bước ra, các nhà đầu tư mạo hiểm (venture capitalist) và các công ty đầu tư bước vào để kiếm lời nhanh. Khi Samsung  Group chính thức tuyên bố giải thể, bộ phim hành động thriller Shiri, vốn được Samsung đầu tư và phát triển như dự án cuối, trở thành hit lớn một cách trớ trêu. Bộ phim phá kỉ lục phòng vé với 5.8 triệu lượt người xem cả nước. Một phần của dự án Shiri được đầu tư bởi venture capitalist khiến những nhà đầu tư mới rất phấn chấn. Thêm vào đó, bộ luật Motion Picture Promotion năm 1999 đã có chính sách khuyến khích các công ty đầu tư mạo hiểm. Cho tới năm 2000 thì trong 58 phim sản xuất có 23 phim được đầu tư từ nguồn vốn này.

Bộ luật Motion Picture Promotion sửa đổi năm 1999 đã tạo điều kiện cho tư nhân đầu tư, kết quả là “nguồn vốn netizen” ra đời. Tận dụng số lượng fans trên mạng đông đảo, một hãng phim tên Bom đã vận động được gần $85000. Hãng đã quy động 200 cá nhân, mỗi người $425, sau đó trả lãi 200%. Sau đó, nhiều bộ phim khác cũng thu hút đầu tư từ netizen để lấy vốn và quảng cáo. Năm 2001, Hana Bank giới thiệu một quỹ đầu tư gọi là “Hana cinema trust fund no. 1,”  thu hút được  7.8 triệu.

Trong môi trường thuận lợi này, điện ảnh Hàn cho ra đời nhiều phim bom tấn. Năm 2001, kỉ lục phòng vé của Shiri bị phá bởi Joint Security Area, tiếp theo bị phá bởi Friends chỉ sau vài tháng với 8.4 triệu vé. Năm 2004 có 2 bộ phim lập kỉ lục mới với 11.08 và 11.74 triệu vế. Phim đầu là Silmido quay về chủ đề Nam- Bắc Hàn năm 1970s và Taegukki: The Brotherhood of War, bộ phim về hai anh em trong chiến tranh Triều Tiên. Tháng Ba 2006, The King and the Clown, phim hư cấu về một vị vua Joseon và hai chú hề lập kỉ lục mới với 12 triệu người xem. Với những phim ăn khách, thị trường nội địa của phim Hàn tăng từ 15.9% năm 1993 lên 35.5% năm 2000, và đánh dấu trên 50% trong 5 năm tiếp theo.

Nguồn vốn đổ vào ngành điện ảnh không chỉ tạo điều kiện phát triển phía sản xuất mà còn phía tiêu thụ. Hệ thống rạp chiếu phim phức hợp, thường nằm trong những trung tâm thương mại lớn, nâng cao kinh nghiệm xem phim và thu hút người xem. Những rạp này đã bắt đầu được xây dựng từ “thời đại cheabol.” Theo đạo diễn, nhà sản xuất Kang Wu-Suk (2002), các rạp chiếu phim phức hợp này là “sân chơi” của các bạn trẻ, nơi họ có thể tụ tập ăn uống, xem phim. Con số những xuất chiếu tăng vọt, từ 497 năm 1997 tới 1132 năm 2003, càng thúc đẩy sản xuất phim. Nhiều nhà phân phối của các hệ thống rạp đã trực tiếp đầu tư sản xuất phim để cung ứng nhu cầu ngày càng cao. Tới năm 2006, Cinema Service, CJ Entertainment, Showbox, Inc và Lotte Entertainment đã tạo thành một nhóm độc quyền từ sản xuất, đầu tư, phân phối tới quản lý rạp…

[Bài tiếp theo, nếu có, sẽ bàn về sự phát triển của phim truyền hình]